ĐIỂM TIN CẢNH GIÁC DƯỢC 05.2025

1. NHẮC LẠI CHỐNG CHỈ ĐỊNH SỬ DỤNG THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN (ACEI) VÀ THUỐC ỨC CHẾ THỤ THỂ ANGIOTENSIN (ARB) TRONG THAI KỲ: THÔNG TIN TỪ CƠ QUAN AN TOÀN THUỐC VÀ THIẾT BỊ Y TẾ NEW ZEALAND (MEDSAFE)

Nguy cơ khi sử dụng ACEi/ ARB

Các thuốc đầu tay trong điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân người lớn bao gồm ACEi (ví dụ: enalapril, lisinopril, perindopril, quinepril, ramipril) và ARB (ví dụ: candesartan, losartan, telmisartan). Tuy nhiên, các thuốc này bị chống chỉ định trong thai kỳ. Việc sử dụng các thuốc này trong thời kỳ mang thai có liên quan đến độc tính trên thai nhi và trẻ sơ sinh, bao gồm dị tật hộp sọ, giảm thể tích dịch ối, hạ huyết áp, tăng kali máu, suy thận và thai chết lưu.

Khuyến cáo khi kê đơn ACEi/ ARB cho bệnh nhân trong độ tuổi sinh sản

– Trước khi bắt đầu điều trị bằng các thuốc ACEi/ ARB, bác sĩ cần hỏi bệnh nhân có đang mang thai hoặc có dự định mang thai hay không.

– Thông báo cho bệnh nhân về nguy cơ của các thuốc ACEi/ ARB lên thai nhi và nhắc bệnh nhân đến gặp bác sĩ ngay khi có thai. Nếu bệnh nhân có kế hoạch mang thai, cân nhắc chuyển sang sử dụng thuốc điều tăng huyết áp khác thay thế trước khi thụ thai.

– Nếu bệnh nhân mang thai trong quá trình điều trị bằng các thuốc ACEi/ ARB, cần ngừng thuốc và thay thế bằng thuốc điều tăng huyết áp khác phù hợp.

Nguồn: https://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/311

2. HỘI CHỨNG VIÊM RUỘT LIÊN QUAN ĐẾN KHÁNG SINH AMOXICILLIN: THÔNG TIN TỪ BỘ Y TẾ CANADA (HEALTH CANADA)

Hội chứng viêm ruột do thuốc là một phản ứng dị ứng, với triệu chứng điển hình là nôn kéo dài (xuất hiện trong vòng 1-4 giờ sau khi dùng thuốc), chủ yếu được báo cáo ở trẻ em sử dụng các thuốc chứa amoxicillin. Các triệu chứng khác có thể bao gồm đau bụng, mệt mỏi, tiêu chảy, hạ huyết áp hoặc tăng bạch cầu trung tính. Trong các trường hợp nghiêm trọng, hội chứng viêm ruột do thuốc có thể tiến triển thành sốc.

Bệnh nhân được khuyến cáo ngừng sử dụng thuốc chứa amoxicillin và thông báo ngay cho nhân viên y tế nếu gặp các triệu chứng của hội chứng viêm ruột liên quan đến thuốc do đây có thể là dấu hiệu của phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

Nguy cơ gặp hội chứng viêm ruột sẽ được cập nhật trong các tờ thông tin sản phẩm của thuốc chứa amoxicillin tại Canada. Thông tin này sẽ được cập nhật vào các mục Cảnh báo và thận trọng, Tác dụng không mong muốn trong thông tin sản phẩm của các thuốc chứa amoxicillin lưu hành tại Canada.

Nguồn: https://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/311

3. BỆNH PHỔI KẼ DO THUỐC: THÔNG TIN TỪ MEDSAFE

Tại cuộc họp vào tháng 09/2024, Hội đồng đánh giá phản ứng có hại của thuốc (Medicines Adverse Reactions Committee – MARC) của Cơ quan An toàn Thuốc và Thiết bị Y tế New Zealand (Medsafe) đã đánh giá một báo cáo ca viêm phổi không đặc hiệu liên quan đến methotrexat. Trong điểm tin này, Medsafe nhắc lại về nguy cơ mắc bệnh phổi kẽ khi sử dụng methotrexat và các thuốc khác.

Thuốc gây bệnh phổi kẽ

Bệnh phổi kẽ là thuật ngữ chỉ một nhóm bệnh lý gây viêm hoặc xơ hóa nhu mô phổi. Những tổn thương này làm suy giảm khả năng trao đổi khí của phổi và có thể dẫn đến suy hô hấp hoặc tử vong.

Bệnh phổi kẽ là phản ứng có hại của thuốc trên phổi phổ biến nhất. Một số thuốc có thể gây bệnh phổi kẽ gồm nitrofurantoin, methotrexat, amiodaron, leflunomid, hóa trị liệu và một số thuốc sinh học (Bảng 1). Medsafe đã ghi nhận báo cáo của hàng trăm thuốc có khả năng gây bệnh phổi kẽ.

Bảng 1. Ví dụ về các thuốc liên quan đến bệnh phổi kẽ

Thuốc Đặc điểm
Methotrexat Viêm phổi kẽ cấp/mạn tính và xơ phổi có thể xuất hiện và tiến triển nhanh chóng
 Amiodaron Xơ phổi và/hoặc viêm phổi là những phản ứng đã được báo cáo.Bệnh nhân hồi phục nếu ngừng thuốc sớm

Giám sát bệnh phổi kẽ do thuốc

Các triệu chứng khởi phát của bệnh phổi kẽ không đặc hiệu, bao gồm ho, khó thở và mệt mỏi. Chẩn đoán bệnh phổi kẽ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh học và mô học. Trên lâm sàng, thuốc có thể là một nguyên nhân gây bệnh phổi kẽ khi bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng hô hấp mới hoặc tiến triển trầm trọng hơn trong thời gian dùng thuốc.

Yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi kẽ do thuốc:

– Tuổi (trẻ em và người cao tuổi có nguy cơ gặp phản ứng có hại cao hơn).

– Bệnh lý nền liên quan đến phổi.

– Tương tác thuốc: sử dụng đồng thời các thuốc có thể gây bệnh phổi kẽ.

Xử trí viêm phổi kẽ

Khi sử dụng các thuốc có nguy cơ gây bệnh phổi kẽ, cần theo dõi chặt chẽ chức năng hô hấp của bệnh nhân. Phát hiện bệnh phổi kẽ muộn làm tăng nguy cơ tổn thương phổi không hồi phục, thậm chí tử vong. Nhân viên y tế cần tham khảo hướng dẫn sử dụng thuốc và các hướng dẫn điều trị liên quan để có biện pháp xử trí phù hợp.

Khi phát hiện bệnh nhân mắc bệnh phổi kẽ do thuốc, cần ngừng thuốc ngay và điều trị bằng corticosteroid. Việc nhận biết và điều trị sớm có thể cải thiện tiên lượng của bệnh nhân.

Tư vấn cho bệnh nhân về nguy cơ bệnh phổi kẽ: Bệnh nhân sử dụng các thuốc có thể gây bệnh phổi kẽ cần được thông báo về nguy cơ này. Khuyến cáo bệnh nhân đến cơ sở y tế ngay khi xuất hiện các triệu chứng như ho, đau ngực, khó thở, sốt hoặc ớn lạnh. Giải thích cho bệnh nhân rằng việc phát hiện và điều trị sớm rất quan trọng để giảm nguy cơ mắc tổn thương phổi không hồi phục.

Nguồn: https://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/311

4. ANSM: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỢP LÝ KHÁNG SINH FLUOROQUINOLON

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế:

– Chỉ kê đơn nhóm kháng sinh này khi có chỉ định, đồng thời thông báo cho bệnh nhân về lợi ích, các nguy cơ tiềm ẩn, cũng như hướng dẫn cách xử trí khi gặp phản ứng có hại của thuốc. Không sử dụng fluoroquinolon trong những trường hợp có thể lựa chọn các nhóm kháng sinh thay thế khác.

– Fluoroquinolon không nên được chỉ định trong:

+ Điều trị các nhiễm khuẩn không nghiêm trọng hoặc có thể tự khỏi.

+ Dự phòng tiêu chảy du lịch hoặc nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới tái phát.

+ Điều trị các nhiễm khuẩn không do vi khuẩn, như viêm tuyến tiền liệt mạn tính không do vi khuẩn

+ Điều trị các nhiễm khuẩn nhẹ đến trung bình (viêm bàng quang không biến chứng, đợt cấp viêm phế quản mạn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD, viêm xoang cấp tính do vi khuẩn và viêm tai giữa cấp tính), trừ trường hợp các kháng sinh thường được khuyến cáo không còn phù hợp.

+ Bệnh nhân có tiền sử gặp các phản ứng có hại nghiêm trọng khi sử dụng kháng sinh quinolon/fluoroquinolon.

Lưu ý: Tránh sử dụng đồng thời corticosteroid với các kháng sinh fluoroquinolon do làm tăng đáng kể nguy cơ gặp phản ứng có hại trên gân.

Nguồn:http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/5628/ANSM-Tam-quan-trong-su-dung-khang-sinh-fluoroquinolon-hop-ly.htm

5. MEDSAFE: LƯU Ý MỘT SỐ THUỐC GÂY TĂNG TIẾT MỒ HÔI

Tăng tiết mồ hôi do thuốc

Tăng tiết mồ hôi là tình trạng đổ mồ hôi quá mức và không kiểm soát. Tình trạng này có thể được phân loại thành: nguyên phát, không rõ nguyên nhân (vô căn), hoặc thứ phát do các bệnh lý nền, thuốc hoặc nguyên nhân khác.

Tăng tiết mồ hôi do thuốc là nguyên nhân thứ phát phổ biến nhất. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, có thể xuất hiện ở một bên, không đối xứng hoặc toàn thân. Nếu không được điều trị, tăng tiết mồ hôi có thể dẫn đến các vấn đề như nhiễm trùng da, khiến người bệnh cảm giác xấu hổ khi giao tiếp, giảm sự tự tin và ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh.

Cơ chế

Cơ chế tăng tiết mồ hôi có liên quan đến hoạt động điều hòa nhiệt độ cơ thể tại vùng dưới đồi, trung tâm điều hòa nhiệt trong tủy sống, hạch giao cảm và các liên kết thần kinh với tuyến mồ hôi eccrine. Acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh quan trọng trong quá trình điều hòa nhiệt độ cơ thể và việc tiết mồ hôi. Một số thuốc có thể tác động lên các con đường này, tăng cường việc dẫn truyền acetylcholin, từ đó làm tăng tiết mồ hôi.

Bảng 1 liệt kê một số thuốc có thể gây tăng tiết mồ hôi kèm theo cơ chế.

Bảng 1: Các nhóm thuốc/thuốc liên quan đến chứng tăng tiết mồ hôi và cơ chế (danh sách không đầy đủ)

Nhóm thuốc Một số thuốc cụ thể Cơ chế
Opioid Codein

Fentanyl

Morphin

Giải phóng histamin dẫn đến tăng tiết acetylcholin
Thuốc ảnh hưởng đến chức năng nội tiết

– Glucocorticoid

– Thuốc điều trị tuyến giáp

Dexamethason

Hydrocortison

Prednison

Levothyroxin

Giải phóng nhiều loại hormon ảnh hưởng đến vòng điều hòa phản hồi

Xử trí

Khi nghi ngờ thuốc là nguyên nhân gây ra tình trạng tăng tiết mồ hôi ở người bệnh, bác sĩ có thể cân nhắc giảm liều hoặc chuyển sang dạng thuốc giải phóng kéo dài. Ngoài ra, có thể áp dụng các biện pháp dùng thuốc hoặc không dùng thuốc (ví dụ, thuốc chống mồ hôi tại chỗ – topical antiperspirant) để giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng. Nếu tình trạng tăng tiết mồ hôi trở nên nghiêm trọng và vượt quá lợi ích điều trị của thuốc, cần ngừng sử dụng thuốc gây ra triệu chứng và thay thế bằng thuốc khác ít có khả năng gây tăng tiết mồ hôi.

Nguồn: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/5609/Medsafe-luu-y-mot-so-thuoc-gay-tang-tiet-mo-hoi.htm

Leave a reply